bài học nhận thức
Thang đo BLOOM về các cấp độ tư duy được Benjamin Bloom, một giáo sư của trường Đại học Chicago đưa ra vào năm 1956. Trong đó Bloom có nêu ra sáu cấp độ nhận thức (gọi là thang đo Bloom).
trình tÂm lÝ hỌc ĐẠi cƯƠng nhẬn thỨc lÝ tÍnh tƯỞng tƯỢng . trước đây 11 12 d. Tưởng tượng liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính • Tưởng tượng sử dụng nguồn nguyên liệu do nhận thức cảm tính mang lại 13 Chương V. Tư duy và tưởng tượng 14 Cho phép con.
Những bài học đơn giản giúp phát triển nhận thức cho trẻ mầm non. Ca hát và âm nhạc. Hát những bài hát với con bạn và khuyến khích bé hát cùng bạn. Bất kỳ hoàn cảnh nào có thể và trong thời gian rảnh của bạn, hãy cùng ca hát với con. Những chiếc đĩa CD với những bài
Cho nên, có thể nói “nhận thức” là sự miêu tả nội tâm của con người đối với sự vật. Vậy thì đương nhiên “nhận thức” của con người phải chịu sự khống chế bởi ý muốn chủ quan của bản thân người đó. Nhưng nhận thức như thế nào mới đúng với sự thật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!Kính chào đại chúng!----- Kênh YouTube TÂM DƯỢC là nơi chia sẻ các bài học của ZOOM "Lớp Phật
Giải Sử 10 Bài 1: Hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử CTST vừa được VnDoc.com sưu tầm và xin gửi tới bạn đọc.Đây là tài liệu tham khảo giúp các bạn có thêm nhiều tài liệu để học tập thật tốt môn Lịch sử lớp 10.
Vay Tiền Nhanh Iphone. Trong phương pháp học tập nhận thức, giáo viên đưa ra một vấn đề mở và dẫn dắt học sinh trên hành trình xây dựng kiến thức mới. Ảnh KHPT Phương pháp học tập nhận thức ra đời như một câu hỏi đầy nghi vấn về tác dụng của các phương pháp học tập truyền thống kiểu một chiều khi người học chỉ đóng vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức được người dạy truyền đạt. Vào những năm 1950, chủ nghĩa hành vi chiếm địa vị thống trị trong các nghiên cứu tâm lý học ở Mỹ. Chủ nghĩa hành vi chỉ quan tâm đến các ứng xử có thể nhận biết được theo quan điểm này, các quá trình tinh thần, trí thông minh, suy nghĩ… hoặc là những lĩnh vực nằm ngoài tầm với của khoa học, hoặc đơn giản là chúng không tồn tại. Vì thế với những người theo thuyết hành vi, tâm trí con người chỉ là một chiếc hộp đen từ chối mở được ra hoặc yêu cầu phải bỏ qua. Không hài lòng với việc chỉ hạn chế vào những ứng xử quan sát được của chủ nghĩa hành vi, các nhà tâm lý giáo dục như Jean Piaget hay William Perry đã yêu cầu một phương pháp tiếp cận mới với quá trình học tập, dành sự chú ý nhiều hơn cho những gì đang diễn ra “bên trong đầu người học”. Đó là một cách “tiếp cận nhận thức” tập trung vào quá trình tinh thần nhiều hơn là những hành vi có thể quan sát được. Các phương pháp tiếp cận nhận thức có ý tưởng chung là kiến thức bao gồm các biểu đạt tinh thần mang tính biểu tượng và các hình ảnh cùng với những cơ chế hoạt động đi kèm các biểu đạt ấy. Nếu như những người theo thuyết hành vi cho rằng kiến thức là một kho “hành vi” được hấp thụ một cách thụ động thì những chuyên gia về khoa học nhận thức lại cho rằng kiến thức là những thứ do người học chủ động xây dựng dựa trên cấu trúc nhận thức có sẵn của họ. Mỗi người học sẽ diễn giải kinh nghiệm và thông tin dưới góc độ kiến thức hiện có, dựa trên mức độ phát triển nhận thức, nền tảng văn hóa và lịch sử cá nhân của họ. Người học sử dụng các yếu tố này để tổ chức lại các trải nghiệm vừa thu nhận, chọn lọc và chuyển đổi thành thông tin mới. Vì vậy kiến thức là do người học chủ động xây dựng chứ không phải là thụ động tiếp nhận, nó mang đặc điểm của một quá trình tiến hóa và phụ thuộc rất lớn vào quan điểm của người học. Muốn hiểu lý thuyết “học tập nhận thức”, chúng ta phải biết tới khái niệm “siêu nhận thức”, tức là một dạng “nhận thức của nhận thức ”. Nói cách khác, siêu nhận thức là việc tự ý thức về suy nghĩ và quá tình suy nghĩ trong não bộ của bạn, là cách bạn kiểm tra các quá trình tư duy và tinh thần của mình. Để làm nổi bật sự tương phản giữa phương pháp học tập theo chủ nghĩa hành vi và học tập theo nhận thức, hãy lấy ví dụ về trường hợp trẻ em học tiếng mẹ đẻ. Skinner, người được coi là cha đẻ của chủ nghĩa hành vi, cho rằng kiến thức về ngôn ngữ ở trẻ có được là thông qua cơ chế “điều hòa”, bao gồm liên kết, bắt chước và củng cố. Ngược lại, Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, lại cho rằng não người có một “thiết bị” thu nhận ngôn ngữ, một cơ chế bẩm sinh cho phép trẻ phát triển các kỹ năng ngôn ngữ. Theo quan điểm này, tất cả trẻ em sinh ra đều có vốn ngôn ngữ mang tính phổ quát; và với nền tảng ngữ pháp vững chắc này, trẻ em sẽ dễ dàng học ngôn ngữ khi chúng tiếp xúc với một ngôn ngữ cụ thể. Ở đây có một cái gì đó phức tạp hơn chứ không chỉ là những kích thích và những phản ứng đáp trả thuần túy như những người theo thuyết hành vi quan niệm. Một phương pháp học tập tích cực Phương pháp học tập nhận thức ra đời như một câu hỏi đầy nghi vấn về tác dụng của các phương pháp học tập truyền thống kiểu một chiều khi người học chỉ đóng vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức do người dạy truyền đạt kiểu thầy đọc, trò ghi. Phương pháp này tôn vinh sự tham gia tích cực và chủ động của người học. Họ sẽ sử dụng các phương thức khác nhau hình ảnh, thính giác, xúc giác, trải nghiệm để tiếp cận những thông tin mới được cung cấp và sau đó não bộ xử lý thông tin nhằm lưu trữ và lưu giữ thông tin lâu nhất có thể. Trong cách học tập nhận thức, khi giáo viên trình bày một khái niệm mới trong một giờ học toán, học sinh sẽ tự xây dựng kiến thức cho mình thông qua các bước tuần tự khảo sát một ví dụ hay một trường hợp cụ thể của khái niệm mới đó, suy nghĩ về các khía cạnh liên quan, tìm cách giải nó và đem áp dụng các bước này cho một bài toán mới. Những người theo quan điểm nhận thức luôn xem học tập là một quá trình phát triển các khả năng và hiện thực hóa các tiềm năng. Mức độ tăng trưởng được đo bằng mức độ độc lập ngày càng tăng của câu trả lời liên quan tới những kích thích xuất hiện tức thời khi các câu hỏi được đặt ra, cho thấy các hoạt động của trí não không còn tuân theo những quy tắc “tự nhiên” gắn liền với những mã di truyền được “cài đặt” từ khi mới sinh, quá trình học tập vì thế đã thay đổi, hoàn thiện cách tổ chức não bộ và hệ thống thần kinh. Điều đó cho phép chúng ta có khả năng dừng lại và suy nghĩ hợp lý về cách chúng ta sẽ phản ứng trước một tình huống nhất định. Những sự kiện mới xuất hiện được người học đưa vào trong hệ thống lưu trữ để kiểm tra, so sánh và xử lý. Sự phát triển trí tuệ phụ thuộc vào những giao tiếp mang tính hệ thống hoặc ngẫu nhiên giữa người dạy và người học. Những người theo lý thuyết học tập nhận thức nhấn mạnh rằng con người hiện đại sẽ luôn thực hiện quá trình tự học, học tập không còn là một nhiệm vụ hay một nghĩa vụ mà trở thành cách để tồn tại và thích ứng với cuộc sống đang biến động nhanh chóng, học là một cách để có mặt trên đời. Con người sẽ học hỏi khi theo đuổi các mục tiêu và dự án có ý nghĩa nhất với cá nhân mình. Do đó mỗi người học sẽ tự đặt ra các nhu cầu, xây dựng các năng lực phù hợp cho việc học tập thường xuyên của mình. Các chiến lược học tập nhận thức Trong một lớp học, mỗi học sinh sẽ có một cách học riêng hiệu quả nhất cho mình nhận thức bằng trực quan hay hình ảnh, tư duy bằng ngôn ngữ hay logic, có năng khiếu động học hay vận động cơ thể, âm nhạc hay sống nội tâm, thích làm việc theo nhóm hay làm việc độc lập… Nếu xác định được đâu là điểm mạnh của từng học sinh, giáo viên có thể sử dụng chúng để thúc đẩy hoạt động học tập nhận thức. Quá trình nhận thức của học sinh cũng luôn không đồng đều ,thường xảy ra các điểm tắc nghẽn, nếu giáo viên nắm được lý thuyết học tập nhận thức, họ sẽ biết cách giúp họ sinh gỡ rối về phương pháp nhận thức và đuổi kịp các bạn trong lớp. Các giáo viên có nhiều chiến lược cũng như hình thức học tập nhận thức hữu ích để giúp tối đa hóa thành tích của học sinh, mà dưới đây là một vài chiến lược đơn giản và rất hiệu quả – Tăng cường đặt câu hỏi Khi học sinh tìm kiếm câu trả lời, các em có cơ hội tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa của vấn đề. Câu hỏi đưa ra dựa trên câu trả lời trước đó của học sinh có thể giúp các em phân tích kỹ hơn quá trình học và những hiểu biết trong một lĩnh vực nào đó, làm sâu sắc thêm quá trình suy nghĩ của mình. – Chấp nhận khả năng mắc sai lầm. Trao cho học sinh nhiệm vụ mô phỏng một bài toán thực tế hay bắt tay vào giải quyết một vấn đề thực tế sẽ tạo ra khả năng các em có thể mắc sai lầm và từ đó tự mình rút ra các bài học. Ở đây không có những khuôn mẫu định sẵn mà học sinh phải tự mình lựa chọn các yếu tố, các tham số cần thiết để dựng lên mô hình phù hợp. Một mô hình đủ tốt sẽ giúp các em nhận ra mình mắc sai lầm ở chỗ nào và sửa chữa nó. Điều này cũng giúp học sinh định vị rõ mình đang ở đâu trong một chuỗi các bước lập luận để chuyển hướng suy nghĩ đến một lời giải tốt hơn. – Khuyến khích và thúc đẩy sự tự phản biện/ tự đặt ra câu hỏi. Việc trao cho học sinh cơ hội được phép theo đuổi hay phát biểu những suy nghĩ cá nhân khác với ý kiến của giáo viên đóng một vai trò lớn trong việc giúp các em hiểu rõ hơn quá trình vận hành tâm trí và xây dựng hiểu biết của mình. Các câu hỏi được nêu ra trong sách hay tạp chí, những khoảng thời gian yên tĩnh một mình, những cuộc thảo luận nhóm hay những câu hỏi tự vấn là những phương pháp hiệu quả nhất để khuyến khích học sinh “suy nghĩ về cách suy nghĩ” của các em. – Nói to những suy nghĩ của mình. Các giáo viên có thể đảm nhiệm vai trò tiên phong, họ sẽ nói to lên từng bước suy nghĩ của mình, tương ứng với những bước lập luận và giải quyết một vấn đề. Sau đó, họ trao cho học sinh các cơ hội tương tự, giúp các em có cơ hội trình bày rõ ràng, mạch lạc các suy nghĩ của mình. Các chiến lược của phương pháp học tập nhận thức này sẽ giúp giáo viên tạo ra một môi trường giàu thông tin dựa trên những suy nghĩ tích cực. Việc giáo viên hợp tác với phụ huynh để mở rộng phương pháp học tập tích cực ra bên ngoài lớp học cũng rất hữu ích và cần được khuyến khích. Phương pháp học tập nhận thức hiện nay đang được ứng dụng rất mạnh mẽ, chẳng hạn như trong việc đào tạo trực tuyến. Các thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực giao diện người-máy, cho phép giáo viên xây dựng bài giảng, bài thí nghiệm, bài thực hành mô phỏng có kết hợp âm thanh, hình ảnh, hoạt hình, video và những nội dung mang tính tương tác nhằm kích thích sự hưng phấn của người học thông qua hai kênh nghe và nhìn. Các nội dung học tập được trình bày một cách rõ ràng và phù hợp với năng lực tiếp thu kiến thức của người học và giúp cho kiến thức được lưu trữ trong bộ nhớ của não lâu hơn. Nhiệm vụ chính của giáo viên trong tương lai sẽ không dừng lại ở việc cung cấp đủ kiến thức cho học sinh các công nghệ mới như robot hay giáo viên ảo sẽ dần dần đảm nhiệm vai trò này mà là thiết kế các chương trình giảng dạy phù hợp với năng lực của từng học sinh. Muốn vậy, họ cần nắm vững các học thuyết dạy học tiên tiến, mà phương pháp học tập nhận thức là một trong số đó. Trong hơn 60 năm qua, đã hình thành và phát triển cả một ngành khoa học, rộng lớn đến mức được ví như sự xuất hiện của một châu lục mới Khoa học Nhận thức. Khoa học Nhận thức hiện nay không bó hẹp trong việc nghiên cứu về suy nghĩ của con người mà còn áp dụng trong trí tuệ nhân tạo hay nghiên cứu về nhận thức của động vật. Đặc biệt, Khoa học Nhận thức cho thấy, không thể quy giản nhận thức thành ý thức hoặc các chức năng trí tuệ bậc cao lập luận, suy tư, phản ánh… và chỉ ra, phần lớn các hoạt động của trí óc con người nằm ngoài phạm vi của ý thức. Tài liệu tham khảo 1. Anderson, 1983, The Architecture of Cognition. Cambride MA Harvard University Press. 2. Btien,R 1991, Science cognitive et formation. Presses de l’Université du Québec 3. Pressley,M 1995, Cognitive Strategy Instruction, 2nd ed Cambride, MA Brookline Books 4. Sweller,J. Cognitive load during problem solving. Effects on learning, Cognitive Science, 12, 257-285 1988 5. H. Gardner, Histoire de la ré volution cognitive, Payot, 1993. 6. Noam Chomsky, Verbal Behavior, Language., no 1, 1959, tr 26-58. theo Báo khoa học phát triển Ban TT&SV
TINH THẦN TRÁCH NHIỆM LÀ GÌ? Người có tinh thần trách nhiệm là người đáng tin cậy, thực hiện nhiệm vụ được giao và hoàn thành đúng thời hạn. Dù nhận thức còn hạn chế, trẻ vẫn có thể rèn luyện tinh thần trách nhiệm từ nhỏ. Một sách về nuôi dạy con cho biết “Trẻ từ 15 tháng tuổi đã biết hợp tác, và từ khoảng 18 tháng đã thích làm theo cha mẹ. Trong nhiều nền văn hóa, cha mẹ bắt đầu giúp con từ 5 đến 7 tuổi phát huy tinh thần giúp đỡ. Các em ở độ tuổi này đã có khả năng làm nhiều việc trong nhà”.—Parenting Without Borders. TẠI SAO NÊN DẠY CON CÓ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM? Hội chứng “những đứa trẻ to xác” muốn nói đến những người trẻ mà mãi không chịu trưởng thành. Dù có ra ở riêng đi chăng nữa, chẳng bao lâu sau họ cũng về lại với cha mẹ vì không đương đầu nổi với khó khăn. Trong một số trường hợp, nguyên nhân là vì khi nhỏ, họ không được dạy cách chi tiêu, chăm sóc nhà cửa hoặc tự lo cho bản thân. Vì thế, điều quan trọng là bạn nên trang bị cho con những kỹ năng cần thiết để vào đời. Một sách về cách dạy con tự lập bình luận “Chúng ta không nên bao bọc con quá kỹ theo kiểu cơm dâng tận miệng’, rồi khi con đến tuổi trưởng thành thì lại buông tay để con chơi vơi giữa dòng đời”.—How to Raise an Adult. CÁCH DẠY CON CÓ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM Giao cho con việc nhà. NGUYÊN TẮC KINH THÁNH “Mọi loại việc khó nhọc đều đem lợi ích”.—Châm ngôn 1423. Trẻ rất hào hứng làm việc chung với cha mẹ. Vậy hãy phát huy tinh thần này bằng cách giao việc cho con. Một số bậc cha mẹ không làm thế vì nghĩ rằng con đã có hàng đống bài tập, nỡ nào bắt con làm việc nhà! Tuy nhiên, những em biết phụ giúp trong nhà thường học giỏi hơn vì đã tập nhận việc và hoàn thành nhiệm vụ. Cuốn sách được đề cập ở đầu bài cảnh báo “Khi trẻ háo hức muốn phụ giúp mà cha mẹ không cho thì dần dần các em sẽ nghĩ là mình không cần giúp đỡ người khác... Các em cũng sẽ nghĩ là người khác phải làm mọi thứ cho mình”.—Parenting Without Borders. Như lời cảnh báo đó, làm việc nhà sẽ dạy con biết giúp đỡ thay vì đòi hỏi, biết cho thay vì nhận. Nhờ thế, con sẽ thấy mình có vai trò trong gia đình và hiểu mình phải có trách nhiệm với các thành viên khác. Tập cho con chịu trách nhiệm khi phạm lỗi. NGUYÊN TẮC KINH THÁNH “Hãy nghe lời khuyên và nhận sự sửa dạy, hầu mai sau trở nên khôn ngoan”.—Châm ngôn 1920. Khi con phạm lỗi, chẳng hạn như vô ý làm hỏng đồ đạc của người khác, đừng bao che cho con. Trẻ có thể chịu trách nhiệm về lỗi của mình, trong trường hợp này là xin lỗi hoặc bồi thường. Việc nhận trách nhiệm về lỗi lầm hoặc sự thất bại của mình sẽ dạy trẻ những bài học sau Thành thật và biết nhận lỗi Không đổ thừa cho người khác Không viện cớ trốn tránh Xin lỗi khi cần thiết
YOMEDIA Bài học giúp các em hiểu được những giá trị cơ bản của văn học. Nắm vững những nét bản chất của hoạt động tiếp nhận văn học. Tóm tắt bài Giá trị văn học a. Khái quát chung Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống. Những giá trị cơ bản Giá trị nhận thức. Giá trị giáo dục. Giá trị thẩm mĩ. b. Giá trị nhận thức Cơ sở Là quá trình khám phá, lí giải hiện thực để chuyển hóa thành nội dung tác phẩm của nhà văn. Do sự giới hạn tồn tại trong không gian, thời gian, quan hệ xã hội của người đọc. Nội dung Hiểu được cuộc sống hiện thực phong phú. Hiểu được bản chất của con người. Hiểu bản thân mình hơn. c. Giá trị giáo dục Cơ sở Khách quan Nhu cầu hướng thiện Con người luôn khao khát một cuộc sống tốt lành, chan hòa tình yêu thương giữa người với người. Chủ quan Do thái độ tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Nội dung Giúp con người rèn luyện bản thân mình ngày 1 tốt đẹp hơn. Có thái độ và lẽ sống đúng đắn. Đặc trưng của giá trị giáo dục của văn học Văn học giáo dục con người bằng con đường từ cảm xúc đến nhận thức bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp của những hiện tượng sinh động. d. Giá trị thẩm mỹ Cơ sở Con người luôn có nhu cầu cảm thụ và thưởng thức cái đẹp Nhà văn bằng tài năng đã thể hiện cái đẹp của cuộc sống, của con người vào trong tác phẩm của mình giúp người đọc cảm nhận, rung động. Nội dung Văn học mang đến cho con người vẻ đẹp muôn màu của cuộc đời vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người…. Miêu tả, thể hiện cái đẹp của con người từ ngoại hình đến thế giới nội tâm phong phú tinh tế bên trong. Cái đẹp trong văn học không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật tác phẩm kết cấu, ngôn từ chặt chẽ, mới mẻ, độc đáo. e. Mối quan hệ giữa các giá trị văn học 3 giá trị có mối quan hệ mật thiết, không tách rời, cùng tác động đến người đọc khái niệm chân - thiện - mĩ của cha ông Giá trị nhận thức luôn là tiền đề của giá trị giáo dục. Giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức. Giá trị thẩm mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáo dục được phát huy. ⇒ Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáo dục được con người vì nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động. Tuy nhiên, giá trị nhận thức và giá trị giáo dục chỉ có thể phát huy một cách tích cực nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ- giá trị tạo nên đặc trưng của văn học. Tiếp nhận văn học a. Tiếp nhận trong đời sống văn học Tiếp nhận văn học Là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng tai nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọc khám phá ý nghĩa từng của câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng, nhân vật,… làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút. Tiếp nhận văn học là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí người đọc nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình. b. Tính chất tiếp nhận văn học Tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận. Các yếu tố thuộc về cá nhân có vai trò quan trọng năng lực, thị hiếu, sở thích, lứa tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống,… Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm mĩ làm cho sự tiếp nhận mang đậm nét cá nhân. Chính sự chủ động, tích cực của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sức sống cho tác phẩm. Tính đa dạng, không thống nhất Cảm thụ, đánh giá của công chúng về một tác phẩm rất khác nhau, thậm chí cùng một người ở nhiều thời điểm có nhiều khác nhau trong cảm thụ, đánh giá. Nguyên nhân ở cả tác phẩm nội dung phong phú, hình tượng phức tạp, ngôn từ đa nghĩa,… và người tiếp nhận tuổi tác, kinh nghiệm, học vấn, tâm trạng,…. c. Các cấp độ tiếp nhận văn học Có 3 cấp độ tiếp nhận văn học Cấp độ thứ nhất cảm thụ chỉ tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp của tác phẩm ⇒ cách tiếp nhận đơn giản nhưng khá phổ biến. Cấp độ thứ hai cảm thụ qua nội dung trực tiếp để thấy được nội dung tư tưởng của tác phẩm. Cấp độ thứ ba cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức để thấy được cả giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự, người tiếp nhận cần Nâng cao trình độ. Tích lũy kinh nghiệm. Trân trọng tác phẩm, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan, toàn vẹn. Tiếp nhận một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cái đúng. Không nên suy diễn tùy tiện. Bài tập minh họa Ví dụ Trình bày giá trị nhận thức và giá trị giáo dục của đoạn thơ sau Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá, dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây Tiến – Quang Dũng Gợi ý trả lời Giá trị nhận thức Nhận thức về hiện thực cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhận thức về hiện thực cuộc sống của người lính Tây Tiến Đời sống vật chất và tinh thần. Nhận thức về thái độ tình cảm của tác giả đối với người lính Tây Tiến… Giá trị giáo dục Giáo dục tình cảm yêu nước. Giáo dục tình cảm yêu mến, quí trọng người lính thời kì kháng chiến chống Pháp. Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống. Nó bao gồm những giá trị cơ bản Giá trị nhận thức, Giá trị giáo dục và Giá trị thẩm mĩ. Để nắm được những nội dung kiến thức cần đạt, các em có thể tham khảo thêm bài soạn chi tiết hoặc tóm tắt dưới đây Giá trị văn học và tiếp nhân văn học Giá trị văn học và tiếp nhận văn học tóm tắt 5. Hỏi đáp về văn bản Giá trị văn học và tiếp nhận văn học Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em. - Mod Ngữ văn 12 HỌC247 ZUNIA9 Bài học cùng chương ZUNIA9 XEM NHANH CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 YOMEDIA
bài học nhận thức